Chương 2
Kinh thành Biện Kinh quả thực phồn hoa, nhưng phồn hoa mấy cũng không che nổi cái mùi hám tiền của vị Thám hoa lang nhà chúng ta.
Chiếc xe bò cọc cạch đi mất nửa tháng trời mới bo bo tới được cổng thành. Kinh thành nhà Tống đúng là nơi ngập trong lụa là và tiền bạc, người đi như mắc cửi, ngựa xe như nước lướt qua. Trừ đi tiền đi lại, mười lượng bạc tra nam bố thí chỉ còn lại vỏn vẹn bốn lượng. Ta dắt mẹ chồng len lỏi qua những con phố sầm uất, cuối cùng chọn thuê một gian phòng trọ tồi tàn, ẩm thấp ở khu vực phía nam thành – nơi tập trung toàn dân nghèo và lao động chân tay.
“Mẹ chịu khó ở đây mấy ngày. Để con ra ngoài nghe ngóng xem gã phu quân tài tử của con đang sống sung sướng thế nào.” Ta giúp Thôi thị trải lại tấm chăn mỏng, vỗ vỗ vai bà trấn an.
Thôi thị rơm rớm nước mắt, gật đầu: “Dao Nhi, con đi đứng cẩn thận. Đừng làm liều.”
Ta cười nhẹ, không làm liều thì sao đòi được nợ? Bước ra khỏi nhà trọ, ta tạt ngay vào một sạp trà nhỏ bên đường, chỉ cần chi ra năm văn tiền liền thu thập được rổ thông tin sốt dẻo. Hóa ra tên Thám hoa lang Hứa Trình Anh đang là cái tên hot nhất kinh kỳ. Nghe đâu hắn vừa lọt vào mắt xanh của Ôn thượng thư phủ – một vị quan to tam phẩm quyền cao chức trọng. Giới văn nhân đang đồn ầm lên rằng, chỉ vài ngày nữa, Hứa Trình Anh sẽ chính thức đem lễ vật đến dạm ngõ Ôn Nhạc Dao, vị đại tiểu thư lá ngọc cành vàng của Ôn phủ.
“Định mượn gió bẻ măng, một bước lên mây sao? Để xem ta có bẻ gãy cánh măng của ngươi không.”
Ta quay về phòng trọ, lục lọi trong rương đồ, lôi ra một bộ y phục nam nhi bằng vải thô xanh cũ kỹ của Hứa Trình Anh bỏ lại quê nhà. Ta búi cao tóc, dùng bồ hóng dặm nhẹ cho đôi lông mày thêm rậm, đường nét khuôn mặt lập tức trở nên góc cạnh, ra dáng một vị tiểu thư sinh nghèo nhưng cương nghị.
Địa điểm ta nhắm tới là Duyệt Lạc Trà Quán, nơi tụ họp đông đảo nhất của các sĩ tử và văn nhân kinh thành. Vừa bước chân qua ngạch cửa, tai ta đã lùng bùng bởi tiếng ngâm thơ vịnh nguyệt đầy giả tạo. Giữa đại sảnh lầu một, một đám đông đang vây quanh một bức trướng lụa lớn, trên đó chép bài thơ ca ngợi hoa mẫu đơn mới nhất của tân khoa Thám hoa.
“Thơ hay! Thơ của Hứa đại nhân quả thực khí chất thanh cao, tựa như tiên nhân hạ phàm!” Một gã thư sinh gật gù tán thưởng.
Ta chen vào đám đông, khoanh tay trước ngực, liếc nhìn bài thơ rồi bật cười thành tiếng. Tiếng cười của ta không lớn, nhưng giữa bầu không khí tâng bốc nịnh bợ này lại cực kỳ chói tai.
Mấy gã xung quanh lập tức quay phắt lại, nhíu mày: “Vị huynh đài này cười cái gì? Ngươi chê thơ của Thám hoa lang không hay sao?”
Ta phe phẩy chiếc quạt giấy rách, nhướng mày nói: “Thơ thì hay, có điều hơi nặng mùi… đạo nhái. Điển tích ‘Mẫu đơn triều lộ’ này vốn lấy từ thi tuyển đời trước, Hứa đại nhân chỉ khéo léo thay đổi ba chữ cuối để biến thành của mình. Thơ mượn ý, ý mượn văn, thanh cao chỗ nào? Chẳng qua là một kẻ trộm chữ có học thức mà thôi.”
Bốn phía lập tức xôn xao. Một gã thư sinh thân cận của Hứa Trình Anh đỏ mặt tía tai chỉ thẳng vào mặt ta: “Ngươi là ai mà dám ngậm máu phun người? Có giỏi thì xuất khẩu thành thơ đối lại xem, đừng ở đó mà bốc phét!”
“Được thôi.” Ta điềm nhiên tiến lên một bước, mắt nhìn thẳng vào bức trướng lụa. Kiến thức của một chuyên gia cổ văn trong đầu ta lập tức tuôn ra như suối. Ta hắng giọng, nhịp chân, ứng khẩu đọc ngay bốn câu thơ cải biên, dùng chính vần điệu của bài thơ kia nhưng nội dung lại châm biếm sâu cay những kẻ thích khoe mẽ, bên ngoài bọc lụa bên trong rỗng tuếch.
Lời thơ vừa dứt, cả trà quán rơi vào im lặng phăng phắc. Bài thơ của ta cấu trúc chặt chẽ, từ ngữ sắc sảo đến mức gã thư sinh kia há hốc mồm, không thốt nên lời. Những người xung quanh bắt đầu thì thầm, ánh mắt nhìn ta đầy nể phục.
Đúng lúc này, từ phía lầu hai truyền đến tiếng khua nhẹ của rèm châu. Ta nhạy cảm ngước mắt lên, vô tình chạm phải một ánh mắt lấp lánh sau chiếc mũ đội có mành che bằng lụa mỏng. Người ngồi đó là một thiếu nữ dáng dấp cao ráo, khí chất kiêu kỳ, bên cạnh có tì nữ hầu hạ chỉnh tề. Kẽ hở của bức rèm hé lộ đôi mắt tròn trịa, ngây thơ đang nhìn ta chằm chằm đầy hứng thú.
Một tì nữ từ trên lầu hai nhanh chóng bước xuống cầu thang, đi thẳng đến trước mặt ta, khom người hành lễ: “Vị công tử này, chủ tử nhà ta ngồi ở nhã gian trên lầu rất ngưỡng mộ tài văn chương của công tử. Kính mời công tử lên lầu dùng một chén trà nhạt để đàm đạo.”