Chương 1
Trong ký ức sương khói của tôi về năm sáu tuổi, thế giới không được định nghĩa bằng màu sắc hay hình khối, mà bằng mùi vị.
Trước đó, nhà tôi luôn có mùi cháo trắng âm ấm, lẫn với mùi lá hành tươi và cả mùi xà phòng thơm trên vạt áo của mẹ. Nhưng kể từ khi mẹ vào viện, căn nhà bắt đầu nặc mùi thuốc lá và hơi rượu cay nồng của bố.
Ngày mẹ đi, trời không mưa. Đó là một ngày nắng gắt đến mức khiến người ta lóa mắt, nhưng tôi lại thấy lạnh buốt dọc sống lưng.
- An Nhi, lại đây với chị.
Chị cả Ngọc Hà gọi tôi, giọng chị khản đặc, mắt sưng húp. Chị đang bận rộn với những dải vải trắng và những vòng hoa xếp chật ngoài sân. Lúc đó tôi chưa hiểu “tang lễ” là gì. Tôi chỉ thấy lạ vì hôm nay nhà đông người quá, nhưng tuyệt nhiên không ai nhìn vào mắt tôi.
Bố ngồi ở bậc thềm, lưng còng xuống như một thân cây mục. Ông rít thuốc liên tục, khói bay mù mịt che khuất khuôn mặt vốn đã khắc khổ. Cạnh ông, anh hai Minh Quân đứng bất động như một pho tượng đá. Anh vừa từ thành phố chạy về, trên vai vẫn còn đeo chiếc ba lô bạc màu của sinh viên năm nhất.
Tôi lân la lại gần, níu lấy vạt áo sơ mi của anh, hỏi nhỏ:
- Anh hai, sao mẹ nằm trong kia lâu thế? Sao mẹ không dậy nấu cháo cho em?
Bàn tay anh hai run lên bần bật. Anh không nhìn tôi, chỉ siết chặt lấy đôi vai nhỏ bé của tôi, giọng nghẹn lại:
- Mẹ mệt rồi Nhi à. Mẹ phải đi đến một nơi rất xa để nghỉ ngơi.
- Xa là ở đâu? Bao giờ mẹ về?
- …
Anh không trả lời được. Anh quay mặt đi, nhìn đăm đăm vào di ảnh của mẹ trên linh sàng. Tôi thấy những giọt nước mắt nóng hổi rơi xuống vai áo mình, thấm qua lớp vải mỏng, nóng đến mức làm tôi giật mình.
Đám tang diễn ra trong sự ồn ào giả tạo của người lớn và sự im lặng đáng sợ của căn nhà. Họ hàng đến rồi đi, người thì tặc lưỡi thương xót, người thì thầm thì về việc “thằng Quân chắc phải bỏ học”, “con Hà sắp lấy chồng rồi, cũng may”.
Tôi đứng nép sau cánh cửa, nhìn bố tôi gục đầu bên bàn rượu với mấy ông chú trong họ.
- Thím nó đi rồi, tôi biết xoay xở sao với hai đứa nhỏ đây? Thằng Quân thì đang học đại học, con Hà thì người ta cũng đánh tiếng hỏi cưới rồi. Số tôi sao mà khổ thế này.
Bố vừa khóc vừa nấc, chén rượu trên tay sóng sánh. Tôi không thấy sự thương tiếc mẹ trong lời nói của ông, tôi chỉ thấy một nỗi sợ hãi về trách nhiệm đang đè nặng.
Đêm đầu tiên sau khi tiễn mẹ ra đồng, căn nhà vắng lặng đến mức nghe rõ tiếng gió lùa qua khe cửa. Mùi nhang trầm nồng nặc khiến tôi khó thở. Tôi ôm con búp bê cũ, mò mẫm sang phòng anh hai.
Anh không ngủ. Anh ngồi bên bàn học, trước mặt là cuốn sổ liên lạc và mấy tờ giấy báo học phí. Ánh đèn dầu leo lét hắt bóng anh lên vách tường, cô độc và cao lớn.
Tôi leo lên giường, chui tọt vào trong chăn của anh. Hơi ấm từ người anh khiến tôi bớt run rẩy.
- Anh hai, em sợ.
Anh buông bút, xoay người lại ôm lấy tôi. Lồng ngực anh phập phồng, nhịp tim đập nhanh.
- Đừng sợ, có anh đây rồi.
Tôi vùi đầu vào ngực anh, mùi mồ hôi và mùi nắng trên áo anh dần thay thế cho cái mùi thuốc súng tàn nhẫn ban ngày. Tôi lại hỏi câu hỏi mà mình vẫn đau đáu:
- Mẹ đi bao lâu thì về hả anh? Một tuần hay một tháng?
Căn phòng rơi vào im lặng cực hạn. Tôi nghe thấy tiếng thở dài run rẩy của anh trên đỉnh đầu. Một lúc lâu sau, anh mới khàn giọng nói:
- Nhi à, nếu mẹ không về nữa, anh sẽ là người nấu cháo cho em. Anh sẽ là người đưa em đi học. Anh sẽ ở bên em, được không?
Lúc đó, tôi sáu tuổi, chỉ cảm thấy yên tâm vì có người hứa nấu cháo cho mình. Tôi không hề biết rằng, để thốt ra lời hứa đó, chàng trai mười chín tuổi ấy đã phải tự tay bóp nát lá thư mời thực tập và những ước mơ rực rỡ ở thành phố ngoài kia.
Đêm đó, tôi ngủ thiếp đi trong vòng tay anh. Trong cơn mơ màng, tôi thấy bóng mẹ đứng ở cửa, mỉm cười nhìn chúng tôi rồi tan biến vào màn đêm. Mùi cháo trắng thân thuộc cuối cùng cũng biến mất hoàn toàn, nhường chỗ cho mùi đất ẩm và vị đắng của sự trưởng thành bắt đầu bủa vây lấy anh tôi.